 |
 |
|
 |

Hà Nội
-
Diện tích: 921 km2
-
Dân số (01/04/1999):
2.627.122 người
-
Các quận: Hoàn Kiếm,
Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy.
-
Các huyện: Gia Lâm,
Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm và Sóc Sơn.
Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam.
Hà Nội nằm ở trung tâm đồng
bằng sông Hồng, phía bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, phía nam giáp tỉnh Hà Tây,
phía đông và đông nam giáp tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên, phía tây giáp tỉnh
Hà Tây.
Thành phố Hà Nội ở vị trí từ
20025’ đến 21023’ vĩ độ Bắc và từ 105015’ đến 106003’ kinh độ Đông. Hà Nội
nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có gió mùa. Nếu phân chia thật chi tiết
và tinh tế, Hà Nội có đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Nhưng để giúp người
ở xa dễ nhận biết khí hậu Hà Nội khi chuẩn bị đến thủ đô này, có thể chia
thành hai mùa chính là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng 10 năm trước
đến tháng 4 năm sau, đây là thời kỳ giá lạnh, không mưa to. Từ tháng 1 đến
tháng 3 vẫn có giá lạnh nhưng vì là tiết xuân nên có mưa nhẹ (mưa xuân) đủ
độ ẩm cho cây cối đâm chồi nảy lộc. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng có
mưa to và bão. Trong các tháng 8, 9, 10, Hà Nội có những ngày thu. Mùa thu
Hà Nội trời trong xanh, gió mát. Những ngày cuối thu se se lạnh và nhanh
chóng hoà nhập vào mùa đông.
Nhiệt độ trung bình mùa đông:
17,20C (lúc thấp nhất xuống tới 2,70C). Trung bình mùa hạ: 29,20C (lúc cao
nhất lên tới 42,80C). Nhiệt độ trung bình cả năm: 23,20C. Mưa trung bình
hàng năm: 1800 mm.
Sông
Là vùng đất cổ, Hà Nội được
sông Hồng và các phụ lưu bồi đắp tạo nên, do đó Hà Nội gắn bó với sông
Hồng mật thiết như con với mẹ. Xưa kia người ta gọi sông Hồng là sông Cái
– sông Mẹ. Tên gọi Hà Nội có nghĩa là vùng đất bên trong sông. Đoạn sông
Hồng om lấy Hà Nội dài gần 100 km chiếm 1/5 chiều dài của sông Hồng trên
đất Việt Nam.
Các sông khác chảy qua Hà Nội
là; sông Đuống, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Đặc
biệt sông Tô Lịch đã được nhắc đến nhiều trong văn chương Hà Nội xưa như
một con sông đẹp chảy trong lòng thành phố.
Ngày nay sông Tô Lịch và sông
Kim Ngưu chỉ có tác dụng như một hệ thống thoát nước cho thành phố. Nhà
nước đã có kế hoạch cải tạo hai con sông này để trả lại vẻ đẹp ban đầu.
Hồ
Hà Nội là thành phố của những
hồ đẹp. Những hồ nổi tiếng đã đi vào văn thơ là hồ Hoàn Kiễm () hồ Gươm,
hồ Tây, Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Thủ Lệ, hồ Giảng Võ…đó còn là
những lá phổi xanh của thành phố với vườn hoa và hàng hàng, lớp lớp cây
xanh tạo cho thành phố nguồn sinh lực trong thiên nhiên tươi mát.
Giao thông
Hiện nay Hà Nội đang chuyển
mình cùng cả nước. Hàng loạt phố mới với những đại lộ, đường cao tốc ra
đời. Nhiều khách sạn, công sở cao tầng hiện đại, đan xen với các khu phố
cổ tạo nên một dáng vẻ mới cho thành phố 1000 năm. Sân bay quốc tế Nội Bài
cách trung tâm thành phố khoảng 35 km. Đây là một trong hai sân bay lớn
nhất nước với nhiều đường bay trong nước và ngoài nước. Sân bay đang được
xây dựng lại thành một sân bay hiện đại. Từ sân bay về thành phố khoảng 40
phút xe ca.
Đường sắt
Từ ga Hà Nội toả đi các nhánh
đường sắt: Hà Nội – Lạng Sơn; Hà Nội – Thái Nguyên; Hà Nội – Lào Cai; Hà
Nội – Hải Phòng; Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đường bộ
Từ các bến xe phía Nam, Kim
mã, Gia Lâm tỏa đi khắp các nơi trên toàn quốc bằng các tuyến quốc lộ 1A
xuyên Bắc – Nam; quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang,
quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; quốc lộ 5 đi Hải Phòng; quốc lộ 6 đi
Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu; quốc lộ 32 đi Sơn Tây.
Đường thuỷ
Bến phà Đen có tàu thuỷ đi
Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì; Bến Hàm Tử Quan có tàu thuỷ đi
Phả Lại.
Khu vực hành chính
Hà Nội chia thành 7 quận nội
thành và 5 huyện ngoại thành:
Quận Hoàn Kiếm là trung tâm
thủ đô, có các cơ quan đầu não của thành phố, các khu thương mại lớn, có
các nghề thủ công truyền thống. Toàn bộ khu phố cổ trong danh mục bảo tồn
di sản nằm trong quận này.
Quận Ba Đình là khu vực có
nhiều cơ quan Chính phủ, nhiều đại sứ quán các nước, có quảng trường Ba
Đình lịch sử và lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều di tích lịch sử và danh
lam thắng cảnh. Quận Ba Đình còn bao gồm nhiều khhu phố, dường xá mới như
Giảng Võ, Thành Công, Thủ Lệ…
Quận Đống Đa có nhiều khu dân
cư lớn mới xây dựng trong vòng hai, ba thập kỷ gần đây như: khu Kim Liên,
Trung Tự. Quận Đống Da còn nhiều di tích lịch sử như gò Đống Đa, chùa Bộc,
chùa Láng…
Quận Hai Bà Trưng nhiều công
trình mới xây dựng đã và đang hình thành trên trục đường Giải Phóng (quốc
lộ 1). Một làng đại học phía Nam thành phố đã hình thành bên cạnh Bộ Giáo
dục và Đào tạo như các trường Đại học Bách Khoa, Xây Dựng, Kinh tế Quốc
Dân v.v.
Quận Tây Hồ được thành lập
tháng 10 năm 1995 do yêu cầu phát triển của Thủ đô. Mặt nước hồ chiếm 48%
diện tích toàn quận. Nơi đây đã nổi danh với những làng hoa đào Nhật Tân,
làng đất Quảng Bá, làng cây cảnh Nghi Tàm…và hơn 20 di tích lịnh sử được
nhà nước xếp hạng là thế mạnh của quận. Một dự án xây dựng quận Tây Hồ
thành trung tâm du lịch của Hà Nội đã được trình lên Chính phủ.
Quận Thanh Xuân mới thành lập
tháng 1 năm 1997. Địa bàn quận nằm theo trục đường lớn mang tên Nguyễn
Trãi. Có nhiều trường đại học như: Ngoại ngữ, Kiến trúc, Cao đẳng sư phạm
nhạc hoạ, An ninh v.v..
Quận Cầu Giấy mới thành lập
tháng 8 năm 1997. Nơi đây là khu dân cư mới xây dựng, bên cạnh đường cao
tốc Thăng Long – Nội Bài. Nhiều trường học, viện nghiên cứu được xây dựng
ở quận Cầu Giấy.
5 huyện ngoại thành là: Gia
Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm và Sóc Sơn.
Lịch sử
Kể từ khi dựng nước, vùng đất
Hà Nội vẫn là mảnh đất thiêng, tiêu biểu cho cả nước. Cách đây 23 thế kỷ,
Cổ Loa (nay thuộc huyện Đông Anh) đã là kinh đô nước Âu Lạc của Thục AN
Dương Vương. Hơn một ngàn năm nối tiếp sau, Hà Nội luôn là trung tâm của
phong trào đấu tranh chống quann xâm lược phương Bắc giành độc lập cho dân
tộc. Với địa hình và vị trí thuận lợi, trung tâm của đòng bằng sông Hồng,
nơi đây dần dần được mở mang xây dựng thành một điểm dân cư trù phú. Đã có
nhiều giai đoạn, thành Đại La (khu vực Hà Nội ngày nay) được chọn là thủ
phủ của quân Giao Chỉ (phần đất miền Bắc Việt Nam dưới thời thống trị của
phong kiến phương Bắc). Tuy nhiên chỉ đến khi Việt Nam giành được độc lập,
Thăng Long mới được lựa chọn là thủ đô của nước Đại Việt.
Mùa thu năm Canh Tuất (1010),
Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ, người sáng lập triều Lý đã rời đô từ Hoa Lư ra
thành Đại La.
Khi đoàn thuyền của vua Lý vừa
cập bến sống Nhị (sông Hồng ngày nay), bỗng thấy có Rồng Vàng hiện ra.
Nghĩ là điềm lành, vua Lý cho đổi tên thành Đại La thành Thăng Long (rồng
bay), còn cố đô Hoa Lư đổi tên thành Trường Yên (nay thuộc tỉnh Ninh
Bình). Năm 1010 trở thành năm lịch sử đối với Hà Nội nói riêng và cả nước
nói chung.
Qua các triều đại Lý, Trần,
Lê,, Hà Nội đã phát triển thành một kinh thành hùng mạnh, với hàng trăm
cung điện, chùa triền nguy nga, tráng lệ. Trong thời gian này mảnh đất
Thăng Long đã chứng kiến, đã là đầu não chỉ huy tạo nên những chiến công
hiển hách chống quân xâm lược, mà điển hình là 3 lần chiến thắng quân
Nguyên – Mông (1258, 1285, 1288). Thăng Long trở thành trung tâm kinh tế,
văn hoá của cả nước. Đạo Phật, đạo Nho phát triển mạnh mẽ. Văn Miếu – Quốc
Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam đã được thành lập và đào tạo
hàng ngàn nhân tài cho đất nước. Các ngành nghề thủ công, văn hóa dân gian
phát triển mạnh mẽ. Trong gần một ngàn năm, lúc là Thăng Long, lúc là Đông
Kinh, Đông Đô và sau này là Hà Nội (1831), mảnh đất thiêng liêng này luôn
là trái tim của cả nước.
Quá trình hình thành và
phát triển của Hà Nội
- Năm 208 trước Công nguyên,
An Dương Vương chọn Cổ Loa là Kinh Đô.
- Từ thế ký 2 trước Công nguyên đến thế kỷ 4: thuộc quân Giao Chỉ.
- Năm 454 – 456: thành lập huyện Tống Bình (gồm Hà Nội).
- Năm 544: Lý Nam Đế đóng đô ở Vạn Xuân, dựng thành ở ven sông Tô Lịch.
- Năm 866: Cao Biền xây thành Đại La.
- Năm 1010: Lý Thái Tổ dời đô về Đại Là, đặt tên là Thăng Long.
- Năm 1397: Hồ Quý Ly đổi tên thành Đông Đô.
- Năm 1428: Lê Lợi đổi tên thành Đông Kinh.
- Năm 1831: Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội.
- Năm 1888: Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội.
- Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội.
Quốc hội khoá này xác định Hà Nội là thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà.
Sau khi thống nhất đất nước,
Quốc hội khoá VI họp ngày 25/4/1976 đã quyết định Hà Nội là thủ đô của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tên xa xưa của Hà Nội là Thăng
Long (nghĩa là rồng bay) với các di tích lịch sử văn hoá đã có hàng ngàn
năm. Những di tích này mang những dấu ấn lịch sử của quá trình dựng nước
và giữ nước, đồng thời gắn liền với những truyền thuyết hào hùng của vuàng
đất ngàn năm văn hiến. Đến Hà Nội, du khách có thể hiểu sâu sắc về đất
nước và con người Việt Nam. Khi thăm thành ốc Cổ Loa, thăm đền Phù Đổng
trên núi Sóc Sơn…du khách sẽ được nghe truyền thuyết Thánh Gióng, sự tích
Rùa Vàng đã giúp vua An Dương Vương xây thành và câu chuyện tình Mỵ Châu,
Trọng Thuỷ…
Hà Nội nổi tiếng với Văn Miếu
– Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam được xây dựng năm 1070, và với
nhiều di tích lịch sử khác như chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột, chùa Quán Sứ,
đền Quán Thánh…
Hà Nội còn có những di tích
gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và
hangf loạt bảo tàng quốc gia. Bên cạnh khu phố cổ, Hà Nội còn có nhiều
thắng cảnh đẹp như Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm.. đã và đang thu hút du khách
trong nước và ngoài nước. Hà Nội là một trung tâm du lịch lớn của cả nước.
Văn hoá
Hà Nội là mảnh đất ngàn năm
văn hiến, là một trung tâm văn hoá lớn của cả nước. Hà Nội là một dải đất
cổ nên văn học Hà Nội cũng rất phong phú, từ văn học truyền miệng, văn học
chữ Hán, chữ Nôm đến cữ quốc ngữ. Các truyền thuyết, truyện kể dân gian
đến ca dao tục ngữ đều mang những nét rất Hà Nội, thanh lịch và tinh tuý.
Văn học chữ viết có chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ với nhiều tác phẩm lớn,
những áng văn bất hủ. Hà Nội còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử văn hoá,
kiến trúc nổi tiếng. Có tới 600 ngôi đền, chùa, nhiều phố cổ và các phố
buôn bán ồn ào náo nhiệt. Hà Nội có nhiều cơ sở hoạt động văn hoá văn
nghệ, rạp chiếu phim, sân khấu, nhà hát. Có nhiều nhà xuất bản, báo và tạp
chí, các loại ấn phẩm in bằng các thứ tiếng Việt, Anh, Pháp. Có nhiều thư
viện lớn ở Hà Nội như thư viện Quốc gia, thư viện Hà Nội … Cả thành phố có
8 bảo tàng lớn và Bảo tàng lịch sử, Cách mạng. Quân đội, Mỹ thuật, Phụ nữ,
Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hà Nội , Bảo tàng Dân tộc, có nhiều nhà
triển lãm, thông tin.
Hà Nội là nơi nuôi dưỡng và
phát triển các loại hình văn hoá truyền thống.
Sân khấu
Chèo, tuồng: Trứơc đây Hà Nội
có những gánh chèo, tuồng đi biểu diễn lưu động ở các phường phố, làng
xóm, các sân đình, bến sông. Thời Pháp thuộc nhiều rạp hát được xây dựng,
ban đầu biểu diễn tuồng, chèo cổ, sau được cách tân dần. Có rạp dành biểu
diễn tuồng cổ.
Cải lương có nguồn gốc từ Nam
Bộ, xuất hiện ở Hà Nội vào khoảng năm 1920 và rất được hâm mộ ở Hà Nội.
Khoảng năm 1935 thì xuất hiện rạp chuyên biểu diễn cải lương.
Kịch nói: Đây là một ngành sân khấu hiện đại, xuất hiện ở Hà Nội vào
khoảng giữa năm 1920.
Xiếc: Xiếc đã có ở Hà Nội từ
trước năm 1945. Các đoàn xiếc hồi đó có tên Tạ Duy Hiển, Long Tiên. Đến
thập niên 60, xiếc được thành phố đầu tư phát triển.
Múa rối nước: Là một loại nghệ thuật đặc sắc của Việt am. Múa rối nước đã
xuất hiện từ lâu ở vùng đồng bằng Bắc bộ, ở trong các ngày hội làng, ngày
lễ… Sau một thời gian lãng quên, loại hình nghệ thuật này đã được khôi
phục và trở thành một nét riêng của văn hoá Việt Nam.
Âm nhạc
Dân ca: có các loại hình hát
ru, hát hò lao động, hát giao duyên(hát ví, hát đình, hát trống quân, hát
xẩm), ca nhạc thính phòng có hát ca trù.
Nhạc nghi lễ: nơi triều đình
có đại nhạc, tiểu nhạc, đồng văn, nhã nhạc. Nơi thôn làng có phường bát âm
và dàn trống thường biểu diễn trong các buổi hành lễ (cúng tế, tang lễ).
Nhạc tôn giáo: có hát chầu
văn, hát cửa đình, ở các đền phủ, tụng niệm trong chùa, ca nhạc trong nhà
thờ Thiên Chúa giáo.
Thời Pháp thuộc, âm nhạc Tây
phương du nhập với các nhạc cụ mới và điệu thức mới.
Từ năm 1954 âm nhạc Hà Nội
mang màu sắc mới. Đặc biệt từ 1975 đến nay, âm nhạc Hà Nội đa dạng hoá từ
nội dung đến hình thức biểu diễn. Có nhều đoàn ca múa nhạc, đoàn nhạc giao
hưởng và nhiều loại hình sân khấu phong phú.
Lễ hội truyền thống
Hội đền Cổ Loa
Xã Cổ Loa thuộc huyện Đông
Anh, ngoại thành Hà Nội. Lễ hội Cổ Loa hàng năm diễn ra từ ngày 6 đến 16
tháng 1 âm lịch để tưởng nhớ Thục Phán An Dương Vương, người đã được vua
Hùng thứ 18 nhường ngôi. An Dương Vương đã đặt tên nước là Âu Lạc và đóng
đô ở Cổ Loa. Lễ hội gắn liền với sự tích truyến thuyết nỏ thần và câu
chuyện tình Mỵ Châu – Trọng Thuỷ.
Lễ hội đền Cổ Loa có đám rước
thần của 12 xóm. Ngoài ra trong lễ hội còn có nhiều trò chơi khác nhau:
chơi đu, thổi cơm thi, hát ca trù, hát chèo…
Di tích lịch sử – văn hoá
Văn Miếu – Quốc Tử Giám
Văn Miếu là miếu thờ tổ đạo
nho được xây dựng năm 1070. Sáu namư sau (1076) trong khu vực này nhà Quốc
Tử Giám được dựng lên. Lúc đầu là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng
thu nhận các học sinh giỏi của con em nhân dân.
Văn Miếu – Quốc Tử Giám là
trường Đại học đầu tiên của Việt Nam. Sau nhiều khoá thi, đến năm 1842 vua
Lê thánh Tông cho dựng bia đá để khắc tên họ, quê quán những người thi đỗ
trạng nguyên, bảng nhãn và tiến sỹ từ khoa thi 1442. Hiện nay trong nhà
bia còn 82 tấm bia lớn. Ngoài giá trị nội dung, mỗi tấm bia còn là một
công trình nghệ thuật về trạm khắc đá. Bia được đặt trên lưng con Rùa đá
để biểu thị sự trường tồn của tinh hoa dân tộc.
Đền Quán Thánh
Ba chữ Hán tạc trên nóc cổng
đền là “Trấn Vũ Quán” nghĩa là quán thờ ông Thánh Trấn Vũ.
Thánh Trấn Vũ là một hình tượng kết hợp gữa một nhânn vật thần thoại Việt
Nam (ông Thánh giúp An Dương Vương trừ ma quấy rối khi xây dựng thành Cổ
Loa) và nhân vật thần thoại Trung Quốc(một ông Thánh coi giữ phương Bắc).
Đền Quán Thánh được xây dựng vào đời vua Lý Thái Tổ (1010 -1028). Năm 1893
đền được tu sửa lớn như diện mạo ngày nay. Đặc biệt có pho tượng Thánh
Trấn Vũ bằng đồng đen, đúc năm 1667. Tượng nặng 3.600 kg, cao 3,96 m, chu
vi 3,48 m.
Đền còn có một bức tượng đồng
đen cỡ nhỏ, tương truyền đó là tượng ông trùm Trọng người thợ cả đúc đồng
tài hoa đã chỉ huy hiệp thợ đúc tưoựng Trấn Vũ và quả chuông trên gác tam
quan. Để ghi công thầy, những học trò của ông đã đúc tượng ông và xin được
thờ trong đền này.
Phủ Tây Hồ
Tây Hồ là một làng cổ của kinh
thành Thăng Long nằm ở phía đông của Hồ Tây. ở ngay đầu làng có một ngôi
đền thờ bà chua Liễu Hạnh, một người đàn bà tài hoa, giỏi đàn ca, thơ phú,
đức độ nên đã được dân gian thần thánh hoá tôn làm Thánh Mẫu (Thánh Mẹ).
Hàng năm vào rằm tháng riêng âm lịch, khách hành hương về đây rất đông,
vừa đi lễ Mẫu ban cho điều lành và mọi sự may mắn, vừa đi thưởng ngoạn
cảnh đẹp của thủ đô.
Chùa Trấn Quốc
Chùa Nằm trên một hòn đảo của
Hồ Tây, là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, được khởi dựng từ năm 541. Đứng ở
cuối đường Thanh Niên đã nhìn thấy nhiều ngọn tháp nhấp nhô trên mặt hồ.
Trong chùa có pho tượng quý Thích Phật Ca nhập niết bàn, kiệt tác của nghệ
thuật tạc tượng Việt Nam.
Trong khuôn viên chùa có cây
bồ đề nay đã xum xuê cành lá, là quà tặng của Tổng thống ấn Độ khi ông đến
thăm Hà Nội năm 1959.
Chùa Một Cột
Tên chữ là chùa Diên Hựu
(nghĩa là phúc lành dài lâu). Chùa ở Quận Ba Đình, xây dựng năm 1049 thời
vua Lý Thái Tông. Tương truyền khi ấy vua Lý Thái Tông đã cao tuổi mà chưa
có con trai nên nhà vua thường đến các chùa cầu tự. Một đêm Vua chiêm bao
thấy Đức Phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen ở mọt hồ nước hình vuông phía
tây thành Thăng Long, tay bế đứa con trai đưa cho nhà vua. ít lây sau
Hoàng hậu sinh con trai. Nhà vua cho dựng chùa Một Cột có dáng dấp như đã
thấy trong giấc mơ để thờ Phật Quan Âm.
Chùa Một Cột nhỏ, nhưng có kiến trúc độc đáo, được tạo dáng như một bông
sen từ dưới nước lên.
Chùa Bà Đá
Chùa có tên chữ là Linh Quang
tự ở số 3 phố Nhà Thờ, cạnh bờ hồ Hoàn Kiếm. Chùa được xây dựng từ đời Lê
thánh Tông (1460-1497). Tương truyền khi đào đất đắp thành Thăng Long thì
một người dân đã đào được một pho tượng bằng đá hình dáng một phụ nữ nên
đã lập đền thờ gọi là đền Bà Đá. Sau này thờ Phật nên gọi là chùa Bà Đá.
Chùa có tiền đường xây theo kiểu chữ nhất, trung đường xây theo kiểu chữ
đinh, được nối liền với nhau, tạo nên một khối kiến trúc vuông vắn. Trong
chùa có nhiều tượng gỗ. Chùa có hai quả chuông được đúc vào năm 1823 và
1881, một khánh đúc năm 1842.
Chùa Bà Đá nguyên là tổ đình của thiền phái Lâm Tế, hiện nay là trụ sở của
hội Phật giáo Hà Nội. |
 |
 |